TOÀN DÂN HÃY TÍCH CỰC THAM GIA HƯỞNG ỨNG PHÒNG, CHỐNG DỊCH COVID-19 THEO TINH THẦN "CHỐNG DỊCH NHƯ CHỐNG GIẶC".
Thứ ba, 19/6/2018, 0:0
Lượt đọc: 545

Khiếm khuyết thính giác nặng và sâu trước ngôn ngữ

Trẻ khiếm thính nặng và sâu nếu không được phát hiện và can thiệp kịp thời thì sẽ không nói được; nhân dân ta hay gọi những trường hợp này là “điếc câm”.

KHIẾM KHUYẾT THÍNH GIÁC NẶNG VÀ SÂU

TRƯỚC NGÔN NGỮ

Nguyễn Thị Bích Thủy

Bệnh viện TMH Tp.HCM

 

1. MỞ ĐẦU:

 

Trẻ khiếm thính nặng và sâu nếu không được phát hiện và can thiệp kịp thời thì sẽ không nói được; nhân dân ta hay gọi những trường hợp này là “điếc câm”.

 

Nghe chiếm vị trí quan trọng trong cuộc sống của chúng ta.  Tuy nhiên, khi chúng ta có sức nghe bình thường, ít khi chúng ta để ý đến điều đó.  Khi mới sinh ra, con người phát triển ngôn ngữ nhờ nghe và biết phân biệt các âm có ý nghĩa của tiếng nói với tiếng ồn của môi trường xung quanh.  Nếu không nghe được, khả năng phát triển ngôn ngữ sẽ giảm; đặc biệt ở trẻ em, hậu quả này rất nặng nề, có thể làm thay đổi cả tính nết của trẻ.

 

Khiếm khuyết thính giác càng nặng và xảy ra càng sớm thì hậu quả càng nghiêm trọng.  Các hậu quả sẽ giảm nhẹ rất nhiều nếu chúng ta phát hiện sớm khiếm khuyết thính giác và có các biện pháp giáo dục phục hồi chức năng cần thiết.  Hiệu quả càng cao khi phát hiện càng sớm.

 

2. QUÁ TRÌNH NGHE VÀ PHÁT TRIỂN TIẾNG NÓI Ở TRẺ CÓ SỨC NGHE BÌNH THƯỜNG:

 

Sự hình thành và phát triển về giải phẩu của tai đã hoàn chỉnh từ tháng thứ sáu của bào thai.  Nhưng đến lúc trẻ mới sinh, chức năng thính giác vẫn chưa phát triển hoàn tất.  Lúc đó, trẻ chỉ mới phản ứng với các tiếng động đột ngột và mạnh vào khoảng 70dB.  Trong thời kỳ sơ sinh, các phản ứng của trẻ đối với các kích thích âm thanh gồm có co cơ ở đầu hoặc một chi, phản xạ Moro (duỗi cả hai tay hai chân, chớp mắt, thay đổi nhịp thở, từ từ quay đầu về phía nguồn âm).  Chúng ta vẫn có thể theo dõi điện thế đáp ứng thính giác của trẻ lứa tuổi này như ở trẻ lớn hơn và người trưởng thành.

 

Khả năng nhận biết về thế giới âm thanh xuất hiện dần dần vào khoảng 4-5 tháng tuổi:  trẻ nhận biết hướng âm thanh phát ra và nhận biết một vài âm thanh như tiếng nói của mẹ, tiếng va chạm giữa muỗng và chén, ly, v.v.  Khả năng này lúc đầu còn thô sơ, rồi càng ngày càng trở nên tinh tế hơn.  Sau đó, trẻ còn nhận biết âm điệu và nhịp điệu.

 

Dù nghe bình thường hay khiếm khuyết thính giác hoàn toàn thì vào lúc 3 - 4 tháng tuổi, trẻ vẫn phát ra các âm bập bẹ ơ ơ, a a, …  Trẻ có thính giác bình thường phát ra những âm ngẫu nhiên, và rồi uốn nắn dần dần theo khuôn mẫu các âm phát ra từ những người xung quanh.  Sau nhiều lần nghe, mò mẫm, tập dượt nói theo, trẻ bắt đầu lặp lại được các từ dễ nhất.  Thường thì khi nghe trẻ phát ra các âm ơ ơ, a a thì ông bố lại tưởng con mình biết gọi ba, mừng quá, nên hay nói con biết nói giỏi quá, biết gọi ba;  rồi đáp lại “ba nè con, gọi ba đi con, ba ba”.   Âm “ba” được lặp đi lặp lại nhiều lần, trẻ nghe và tự chỉnh sửa cho đến khi thật sự phát ra được âm “ba”.  Tương tự, bà nội, bà ngoại cũng tưởng cháu mình giỏi, biết gọi bà; và từ “bà” cũng được lặp đi lặp lại nhiều lần cho đến khi thật sự trẻ biết gọi “bà”. …  Cứ như thế, ngôn ngữ được hình thành theo chu kỳ “nghe – phát âm”.

 

Trẻ khiếm khuyết thính giác nặng không nghe được các âm xung quanh và cả các âm do chính mình phát ra.  Lúc đầu, trẻ khiếm thính cũng phát ra được các âm tự nhiên của thanh quản như trẻ nghe bình thường; nhưng chỉ vài tháng sau đó, tiếng bập bẹ nghèo dần và mất hẳn.  Nếu trẻ khiếm thính đã im lặng trong một thời gian dài, thì sau đó sẽ khó phát âm trở lại.

 

Nói chung, trẻ càng nhỏ tuổi thì khả năng hình thành ngôn ngữ càng tốt.  Các lớn, khả năng này càng giảm sút.  Đợi đến khi trẻ khiếm thính nặng lên 4 - 5 tuổi mới dạy nói thì không bao giờ các cháu có được giọng chuẩn.

 

3. ẢNH HƯỞNG CỦA KHIẾM KHUYẾT THÍNH GIÁC NẶNG VÀ SÂU:

 

Khiếm khuyết thính giác có thể có những mức độ như sau:

  • Nhẹ (nghễnh ngãng) (giảm 20-40dB):Trẻ có thể phát âm không chuẩn, nhất là với một số phụ âm.
  • Vừa (giảm 40-60dB):Trẻ chậm nói, và nói sai giọng, nhầm lẫn nhiều nguyên âm và phụ âm.Trẻ cần được đeo máy trợ thính.
  • Nặng (giảm 60-80dB):Trẻ chỉ nghe được tiếng nói lớn.Trẻ nhất thiết phải đeo máy trợ thính và luyện giọng chuẩn.
  • Sâu (giảm trên 80dB):Trẻ không nghe được tiếng nói; nếu không được giáo dục đặc biệt sẽ bị câm.

 

Số trẻ em bị khiếm thính nặng và sâu chiếm khoảng 0,1%; phần lớn là điếc thần kinh giác quan, có thể kèm theo tổn thương phần dẫn truyền âm. 

 

Khiếm thính nặng không chỉ gây hậu quả xấu trên tiếng nói mà còn có ảnh hưởng nhiều đến tâm lý, tình cảm của trẻ.  Trẻ khiếm thính nặng bị ngăn cách với thế giới bên ngoài vì không nghe được và không nói được.  Do thiếu giao tiếp, trẻ bị cô lập với thế giới bên ngoài, và từ đó sẽ dẫn tới những rối loạn về tâm lý, thiếu quan hệ xã hội, kiến thức nghèo nàn về thế giới bên ngoài.

 

Trẻ điếc bồn chồn, lo lắng, khổ sở trước các tình huống bất ngờ, không hiểu nổi ý nghĩ của người khác, cũng không bộc lộ được ý muốn của bản thân.  Từ đó, mỗi trẻ phản ứng một cách khác nhau:  cáu kỉnh, gây gổ, hay lãnh đạm, thờ ơ, tính khí thất thường.  Tình hình còn nặng nề thêm do cách xử xự của gia đình:  quá thương cảm, nuông chiều hoặc ghét bỏ, lạnh nhạt.

 

Hậu quả nghiêm trọng nhiều ít tùy thuộc trước hết vào mức độ khiếm thính và thời gian phát hiện cũng như can thiệp sớm hay trễ.

 

4. CÁC NGHIỆM PHÁP XÁC ĐỊNH THÍNH LỰC Ở TRẺ NHỎ:

 

4.1.  Các phương pháp đánh giá thính lực chủ quan:

            Mẹ hoặc người trực tiếp chăm sóc trẻ là người có thể biết rõ nhất trẻ có nghe được hay không. 

            Trẻ phát triển bình thường có thể đáp ứng với âm thanh; ở mỗi độ tuổi sẽ có các đáp ứng khác nhau.  Vì vậy, chúng ta phải nắm được quá trình phát triển này.

 

Tuổi (tháng)

Đáp ứng với âm thanh

< 1

Mở mắt, chớp mắt, v.v.

6

Quay đầu hoặc đưa mắt nhìn về hướng âm thanh phát ra.

9

Lắng nghe và phát ra các loại âm thanh từ lớn đến nhỏ.

12

Biết tên mình và một số từ. Bắt đầu bập bẹ nói.

18

Biết chỉ một số đồ vật quen thuộc khi được yêu cầu. Biết nói một số từ đơn giản.

24

Có thể nghe những từ rất nhỏ và biết hướng các từ đó phát ra. Có khả năng nói những câu đơn giản.

            Từ bảng trên, chúng ta đặt ra Bảng câu hỏi đánh giá sức nghe của trẻ, như sau:

 

Tuổi

(tháng)

Câu hỏi

Trả lời

Có

Không

< 1

Con của anh chị có mở mắt, nhắm mắt khi nghe tiếng động không?

Trẻ có vẻ như lắng nghe khi anh chị nói hoặc hát không?

 

 

6

Con của anh chị có nhìn theo hoặc quay đầu về hướng âm thanh phát không? Trẻ có vui khi anh chị nói chuyện với trẻ không?

 

 

9

Con của anh chị có nghe được âm rất nhỏ không? Có thích bập bẹ hay tạo ra các âm khác không?

 

 

12

Khi anh chị gọi tên trẻ, trẻ có biết không? Khi anh chị nói tên một số đồ chơi, trẻ có biết không? Trẻ có bắt đầu bập bẹ vài từ không?

 

 

18

Khi anh chị yêu cầu trẻ cầm lên hay chỉ vào một vật gì đó, trẻ có làm theo không? Trẻ có biết sử dụng một số từ đơn giản không?

 

 

24

Trẻ có nghe được cả khi anh chị nói nhỏ không? Trẻ có biết nói những câu đơn giản với anh chị không?

 

 

 

Nếu có câu trả lời không cho bất kỳ câu hỏi nào, có thể đứa trẻ này bị nghe kém.  Chúng ta cần giải thích với ba mẹ của trẻ, và giới thiệu họ đến nơi có máy móc đặc hiệu để chẩn đoán xác định.

 

  • Phương pháp đánh giá thính lực trẻ sơ sinh:

     

    * Điều kiện cần:

          - Một phòng yên tĩnh.

          - Dụng cụ:  tiếng nói

          - Một nhân viên (nữ).

     

    * Các bước tiến hành:

          - Cho trẻ ngủ.  Tiến hành đánh giá khi trẻ mới ngủ không quá 5 phút.

          - Người thử nói lần lượt các chữ cái A, I, M, X, S cách tai thử của trẻ 1 mét.

          - Đánh giá trẻ nghe được hay không bằng cách quan sát phản ứng của trẻ với tiếng nói (chớp

             mắt, mở mắt, vặn mình, cử động tay chân).

          - Nếu trẻ có phản ứng có nghĩa là trẻ nghe bình thường.

     

  • Phương pháp đánh giá thính lực trẻ 1 – 3 tuổi:

     

    * Điều kiện cần:

          - Một phòng yên tĩnh.

          - Dụng cụ:  lục lạc, ly & muỗng, trống, chuông.

          - Hai nhân viên.

     

    * Các bước tiến hành:

          - Mẹ bế trẻ ngồi đối diện với bàn thử..

          - Một nhân viên ngồi ở bàn thử thu hút sự chú ý của trẻ bằng các loại đồ chơi.

          - Một nhân viên đứng phía sau trẻ, cách 1 mét, chếch sang một bên, và tạo ra tiếng động bằng các dụng cụ thử.

          - Đánh giá trẻ nghe được hay không bằng cách quan sát phản ứng của trẻ với tiếng động (chớp mắt, lắng nghe, quay đầu về phía phát ra tiếng động).

          - Nếu trẻ có phản ứng với những tiếng động nhỏ của lục lạc, tiếng muỗng chạm khua trong ly, có nghĩa là trẻ nghe bình thường.

     

  • Phương pháp đánh giá thính lực trẻ 3 – 7 tuổi:

 

* Điều kiện cần:

      - Một phòng yên tĩnh.

      - Dụng cụ:  một số tranh ảnh đơn giản.

      - Một nhân viên.

 

* Các bước tiến hành:

      - Giải thích cho trẻ biết cách thử.

      - Nhân viên ngồi đối diện với trẻ, nói tên các hình cho trẻ nghe.  Chỉ bắt đầu thử khi trẻ đã biết cách thử.

      - Sau đó, nhân viên bước ra phía sau trẻ, nói thầm tên các hình, mỗi tên nói 2-3 lần cho đến lúc chắc chắn trẻ nghe được.

      - Đánh giá trẻ nghe được hay không bằng cách quan sát trẻ có chỉ đúng hình được nói ra hay không..

 

Lưu ý:

+ Nếu không có tranh, có thể yêu cầu trẻ chỉ các đồ vật quen thuộc trong phòng thử như bàn, ghế, viết, cửa, v.v. hoặc các bộ phận cơ thể như tóc, tai, tay, mũi, miệng, v.v.

      + Nếu nói thầm trẻ chỉ không đúng thì dùng giọng nói thường; nếu không đúng nữa thì dùng giọng nói lớn, rồi đến hét lớn gần tai.  Từ đó có thể đánh giá sơ bộ trẻ nghe kém nhẹ, vừa hay nặng, v.v.

 

4.2.  Phương pháp đánh giá thính lực khách quan:

 

  • Đo âm ốc tai (Otoacoustic Emission):

 

* Cơ chế:  Khi có kích thích âm, các tế bào lông ngoài của ốc tai chuyển động tạo ra âm truyền của tai, gọi là âm ốc tai.  Phần lớn âm này được truyền tiếp đến dây thần kinh số VIII, rồi lên não.  Một phần nhỏ âm này truyền ngược trở lại đến cửa sổ bầu dục, qua chuỗi xương con, đến màng nhĩ.  Vì thế, có thể đo âm ốc tai này ở ống tai ngoài.  Âm truyền của ốc tai chỉ đo được khi tai giữa hoạt động bình thường, cơ quan Corti trong điều kiện bình thường hoặc gần như bình thường.

 

* Các điều kiện khi đo:

            - Phòng đo yên tĩnh.

            - Có thể đo cho trẻ 12 – 24 giờ sau khi sanh.

            - Trẻ trong trạng thái ngủ tự nhiên.  Tốt nhất là 1 giờ sau khi ăn.

 

* Ứng dụng:

   - Khám tầm soát khiếm thính ở trẻ nhỏ với hai nghiệm pháp đo âm ốc tai Transient Evoked Otoacoustic Emission (TEOAEs và Distortion Product Otoacoustic Emission (DPOAEs).  Âm ốc tai thường xuyên hiện diện ở trẻ sơ sinh bình thường.  Đo âm ốc tai là nghiệm pháp được nhiều nước trên thế giới sử dụng trong khám tầm soát khiếm thính trẻ sơ sinh. 

 

     Ích lợi lớn nhất của tầm soát điếc bằng đo âm ốc tai (OAE) so với đo điện thính giác thân não (ABR) là thời gian để thực hiện được giảm đi rất nhiều.  Khám tầm soát với đo ốc tai thường chỉ cần ít hơn 15 phút, đôi khi chỉ cần 5 phút, phụ thuộc vào sự hợp tác của trẻ.

     Tuy nhiên, đo âm ốc tai luôn luôn có những hạn chế trong khám tầm soát khiếm thính khi so sánh với đo điện thính giác thân não.  Đo âm ốc tai có thể nhạy hơn với nghe kém dẫn truyền thoáng qua và dễ bị nhiễu vì tiếng ồn của môi trường xung quanh hơn đo điện thính giác thân não.

    

   - Chẩn đoán phân biệt dạng khiếm thính ở trẻ em:  Khiếm thính dạng thần kinh ở trẻ đa số là thần kinh dạng ốc tai.  Tuy nhiên, nhiều báo cáo mới đây về trẻ em và những người trẻ tuổi khiếm thính từ vừa đến nặng có âm truyền ốc tai rõ rệt cho thấy khiếm thính dạng thần kinh sau ốc tai có thể tồn tại ở trẻ em.  Tần suất của loại tổn thương này chưa rõ, nhưng nhiều hơn người ta nghĩ trước đây.  Chắc chắn chẩn đoán bệnh này sẽ khó khăn nếu không có đo âm ốc tai.  Hơn nữa máy nghe chống chỉ định trong  các trường hợp chức năng tế bào lông ngoài bình thường, một phương pháp khác là cần thiết cho việc điều trị.

 

  • Đo điện thính giác thân não (ABR):

Đo điện thính giác thân não được áp dụng nhiều trong tai học, thính học và thần kinh học.  Kết quả của nó chủ yếu giúp chúng ta chẩn đoán hai vần đề lớn:  tìm ngưỡng nghe và tìm vị trí tổn thương đường dẫn truyền thính giác từ ốc tai đến cầu não.

 

-  Xác định ngưỡng nghe:  Từ kết quả so sánh ngưỡng nghe đơn âm và ngưỡng nghe trong đo điện kích thích thân não có thể xác định ngưỡng nghe đơn âm tương đối qua đo điện kích thích thân não ở trẻ nhỏ tuổi, trẻ không hợp tác, ở những người chậm phát triển trí tuệ, v.v.

 

-  Xác định vị trí tổn thương:  Đơn giản nhất là xác định vị trí tổn thương ở ngay ốc tai hay sau ốc tai.  Những tổn thương trước hoặc ngay tại ốc tai có thời gian tiềm tàng sóng I, III, V bình thường hoặc cả ba sóng này kéo dài đều như nhau, nghĩa là khoảng cách đỉnh sóng trong giới hạn bình thường.  Những tổn thương sau ốc tai có thể có thời gian tiềm tàng sóng III, V và khoảng cách đỉnh ngoài giới hạn bình thường, hoặc sự chênh lệch thời gian tiềm tàng và khoảng cách đỉnh giữa hai tai quá giới hạn cho phép:

 

            + U thần kinh thính giác:  tăng khoảng cách đỉnh, đặc biệt là các khoảng cách đỉnh sóng I-III cùng bên.

            + Đa xơ cứng não:  giảm biên độ sóng V, có hay không có sự kéo dài khoảng cách đỉnh.

            + Tăng áp lực nội sọ:  không có sóng V.

            + Chết não:  không có sóng II, VII, hoặc không có sóng I, VII ở cả hai bên.

            + Chấn thương hư ốc tai:  các sóng I, VII không xuất hiện bên chấn thương.

 

5. PHỤC HỒI CHỨC NĂNG CHO TRẺ KHIẾM THÍNH NẶNG VÀ SÂU:

            Khi phát hiện tình tạng khiếm khuyết thính giác nặng và sâu ở trẻ nhỏ, chúng ta phải giải quyết các vấn đề sau:

 

  • Bắt đầu cho trẻ đeo máy trợ thính khi 1 – 2 tuổi là tốt nhất.  Sử dụng phần thính giác còn lại, thường là ở các tần số thấp (trẻ dù nghe kém nặng thường vẫn còn nghe được ở các tần số này).  Tất nhiên đeo máy không giúp cho trẻ nghe được như trẻ bình thường, nhưng vẫn cho trẻ một số thông tin thính giác về âm thanh mà ta cần khai thác triệt để.  Nếu trẻ đeo máy chậm (sau 3 – 4 tuổi) khi trẻ đã quen với một thế giới riêng biệt trong đó âm thanh không có vai trò gì, thì khi đó ích lợi của việc đeo máy giảm đi rất nhiều.

Đeo máy sớm khuyến khích trẻ chú ý đến thế giới âm thanh. Dù trẻ chỉ tiếp nhận được các mảng âm thanh rời rạc, không đầy đủ nhưng cũng đủ để giúp cho việc giáo dục, rèn luyện, phục hồi chức năng thính giác rất nhiều.

Sau khi trẻ mang máy trợ thính từ 3 – 6 tháng mà không có kết quả, thì nên cho trẻ cấy ốc tai (nếu có đủ điều kiện tài chính).

 

  • Giáo dục rèn luyện sớm:  Phải rèn luyện cho cả mẹ lẫn con ngay từ những năm đầu sau khi trẻ ra đời; nếu có sự giúp đỡ của các giáo viên chuyên về điếc càng tốt:
    • Duy trì việc phát âm của trẻ trong các tháng đầu và sau đó phát triển thêm.
    • Tập cho trẻ chú ý, nhận thức thế giới xung quanh, môi trường âm thanh xung quanh.
    • Khai thác các giác quan khác để thay thế hoặc phụ thêm cho thính giác, như thị giác, xúc giác, v.v.
    • Phát triển nhu cầu giao tiếp của trẻ.
    • Phát triển khả năng đọc hình miệng của trẻ.

Việc giáo dục, rèn luyện này phải phù hợp với đặc điểm riêng biệt của từng trẻ.

 

  • Giáo dục cha mẹ:  Gia đình có vai trò rất quan trọng trong việc rèn luyện trẻ quan tâm đến thế giới âm thanh và học nói.

Trẻ em bắt đầu học ngay từ khi mới ra đời, 4-5 năm đầu đời là thời gian trẻ học nhiều nhất.  Đó là những năm trẻ bắt chước và làm quen, giúp trẻ  có thể mở rộng khả năng học tập sau này.  Những gì trẻ học trong những năm đầu đời phụ thuộc gần như hoàn toàn vào môi trường xung quanh và con người trong đó:  chính là nhà và cha mẹ của trẻ.  Việc học của trẻ phụ thuộc không chỉ vào thái độ của cha mẹ đối với trẻ mà còn vào thái độ của cha mẹ đối với nhau, đối với thế giới xung quanh nói chung.  Tất cả những gì cha mẹ làm trước mặt trẻ, với trẻ và cho trẻ đều góp phần hình thành tính cách và con người riêng của trẻ, cảm giác và thái độ của trẻ đối với thế giới trẻ đang sống, và cung cấp cho trẻ khả năng giao tiếp.

 

Thầy thuốc và giáo viên chuyên về điếc phải giảng giải cho cha mẹ của trẻ hiểu các khía cạnh của điếc; thuyết phục và khuyến khích họ, làm cho họ yên lòng giúp trẻ vượt qua khó khăn, bệnh tật./.

 

*

 

TÓM TẮT

 

  1. Nếu nhân viên đo thính lực và cha mẹ của trẻ có ý kiến trái ngược nhau, người nói trẻ nghe bình thường, người nói trẻ nghe kém; thì cứ mỗi 3 tháng phải kiểm tra thính lực lại cho trẻ cho đến khi thống nhất ý kiến.

     

  2. Nếu đang bị viêm tai thì phải điều trị, đến khi lành bệnh sẽ kiểm tra lại thính lực.

     

  3. Cần phải hướng dẫn cha mẹ trẻ cách quan sát các phản ứng của trẻ với tiếng động tại nhà; và kiểm tra lại sau 3 tháng.Việc này sẽ cung cấp cho chúng ta thêm một số thông tin.

     

  4. Cách điều trị tốt nhất cho trẻ khiếm thính nặng và sâu là cho trẻ mang máy trợ thính càng sớm càng tốt, tốt nhất là ngay 1-2 tuổi (máy trợ thính hoặc ốc tai điện tử tùy từng trường hợp và kinh tế gia đình), song song với việc huấn luyện đặc biệt, dạy các kỹ năng giao tiếp và phát triển nhu cầu giao tiếp cho trẻ./.

 

Nguồn tin: Sưu tầm

Viết bình luận

Tin cùng chuyên mục

88